Danh sách các tab/trang

Thứ Bảy, 11 tháng 5, 2013

Rau và nước ngọt khi sống trên biển


Chuyện của kẻ cùng hội cùng thuyền với thợ lặn.

(bài của anh Hồ Bá Đạt, trích)

… Thời gian còn lại không biết làm gì ngoài việc đọc sách và chui lên chui xuống khoang nằm ngủ, ngắm cá bơi quanh tàu. Sách thì chỉ độc có mỗi một cuốn tôi tìm được trong khoang tàu đọc đi đọc lại đến phát chán. Trên tàu hạn chế tắm rửa, nước ngọt chỉ dành riêng cho ăn uống. Lính tráng muốn tắm chỉ còn có nước nhảy xuống biển, nhưng tắm xong không được tráng nước ngọt nên người lúc nào cũng nhơm nhớp, muối đóng trên người nham nháp. Vì người như thế, nên không thể mặc quân phục quy củ. Suốt ngày cởi trần, mặc quần đùi nên da của chúng tôi bóc hết lớp này đến lớp khác do nắng nóng thiêu đốt.

Được dân chài chỉ cho chỗ có nước ngọt trên một hòn đảo gần đấy, trên tàu cuồng cẳng nên tôi và ba anh nữa xung phong đi lấy nước cho tàu. Chúng tôi chèo xuồng cao su đi gần 1 km mới tới chỗ có nước ngọt. Đây là một hòn đảo đất nằm trong vịnh. Chỗ có nước chỉ là một cái vũng nhỏ, nước trong khe chảy ra. Gần đó có mấy cái thuyền đánh cá đang đậu chờ lấy nước như chúng tôi ... Sau khi múc đầy xuồng nước, chúng tôi tranh thủ tắm. Cảm giác lúc xối nước lên người thật sướng! Mát lạnh, người thấy lâng lâng, nhẹ nhõm. Đấy là tắm.

Còn ăn, vì mỗi tháng chỉ một lần tiếp tế, nên chỉ hai ngày là hết đồ tươi, tàu bắt đầu xài đến lương thực dự trữ. Gạo là loại gạo sấy đựng trong bao nilon. Ăn nó cứ rời ra từng hạt, không nở, nên ăn giống như ăn hạt bo bo sau này (ai đã từng ăn bo bo những năm đầu 80 thì cảm giác là như thế). Chỉ một, hai ngày đầu còn lạ miệng, sau đó thì không nuốt nổi. Cảm giác đó tôi nhớ mãi! Thịt hộp chế biến cũng chỉ có 2 món kho và nấu canh là hết. Rau hoàn toàn không có. Lúc đó tôi nhớ đến cuốn "Bất khuất"của Nguyễn Đức Thuận, trong đó có viết về tình trạng thiếu rau của người tù Côn đảo khổ như thế nào. Bây giờ tôi cũng ở trong tình trạng như thế! Người cứ bủn rủn không muốn làm gì. Mấy ngày liền sống thiếu rau, không thể chờ tàu tiếp tế, chúng tôi bắt đầu đi lùng chất tươi để cải thiện bữa ăn.

Nhớ hồi mới ra đảo, hay theo anh phân đội phó hàng đêm chèo xuồng đi soi đâm cá, bắt cua về cải thiện. Có lần anh đâm được con mực nang to gần hết cái xô đựng, tôi lần đầu chứng kiến thấy con mực to quá, thở phì phì, các xúc tu quơ loằng ngoằng hoảng không dám gỡ. Con mực đó cả tàu ăn ớn đến nỗi mấy tháng sau nhìn thấy mực không dám ăn. Chờ đêm xuống, nước thủy triều rút, trơ bãi cạn, ba người chèo xuồng cập bãi, một người xách xô dầu cầm đuốc soi. Đuốc là cái gậy dài, một đầu quấn giẻ được buộc bởi dây thép nhúng dầu máy. Hai người kia bắt cua, ghẹ - nếu phát hiện ra. Đi đến gần sáng cũng được nửa thùng. Nhưng cua ghẹ chỉ có luộc, do không có gia vị ngoài muối, ăn riết cũng ngán, cái quan trọng nhất là rau xanh, thiếu rau thì cũng như không! 

Tôi nhớ hồi ở tàu vận tải, các anh lính cũ vẫn hái rau dại trên đảo về ăn, nó nhớt nhớt như rau mùng tơi hay rau đay, nhưng không nhớ là rau gì? Đành phải hỏi dân. Được họ chỉ nên hái một mớ lá về, giã cua với ghẹ nấu một nồi canh cua rau "muồng tơi"(cứ gọi là rau muồng tơi cho tiện). Nhìn canh cua, nỗi váng gạch cua vàng óng, lại có rau xanh, ai cũng thèm mà không dám ăn, sợ nhỡ mình hái không đúng loại rau đó, bị ngộ độc nên ai cũng dè chừng, người nọ nhìn người kia. Tôi nghĩ "đằng nào cũng chết", thiếu rau lâu ngày quá cũng chết, nên múc đại một chén, ăn. Cả tàu mấy chục con mắt nhìn tôi chằm chằm xem có bị sao không? Tôi thì cảm thấy bát canh ngon và ngọt vô cùng, hết chén canh mà không thấy tôi bị sao nên mọi người tự tin ăn. Chỉ một loáng, nồi canh hết sạch. Từ đó chuyện thiếu rau chỉ là chuyện nhỏ.

H: Tắm đã quá, mấy chú thủy thủ ơi - với "thông điệp": Khi ở trên biển, người ta mới cảm nhận được đầy đủ về giá trị của nước ngọt (hình không liên quan bài viết).

Không có nhận xét nào: