Danh sách các tab/trang

Thứ Năm, ngày 22 tháng 9 năm 2016

Cách tốt nhất để tạo ra một vụ tai nạn lặn

(Bài trên scubadiving.com, trích dịch)

Vào kì nghỉ hè, Gustavo cùng nhóm bạn rủ nhau đi lặn ở Nam Florida. Chuyến đi của họ nhằm ôn lại các kĩ năng nhập môn (OWD) và tập thêm kĩ năng lặn sâu 30 mét.

Sáng hôm đó mặt biển phẳng lặng, mặt trời rực rỡ, dòng chảy rất nhẹ, tầm nhìn rất tốt. Hình dáng xác tàu đắm có thể nhìn thấy từ trên mặt nước. Đó là một ngày hoàn hảo để lặn.

Phổ biến kế hoạch, huấn luyện viên (HLV) nói: … Khi ở độ sâu 30 mét, các bạn cần thường xuyên theo dõi nguồn khí thở của mình và của bạn lặn; các bạn sẽ kết thúc tham quan khi chai khí còn 100 bar, bởi vì tôi muốn các bạn còn 70 bar khi dừng giải áp(*).

Cả nhóm đi xuống 30 mét. HLV cho dừng lại ở độ sâu này. Mặt boong xác tàu ở độ sâu 30 mét và độ sâu đáy cát là 38 mét. Họ thong thả lướt trên mặt bong tàu đắm. Chuyến lặn thật tuyệt vời. Sau đó cả nhóm nổi lên.

Trong lúc dừng giải áp ở độ sâu 5 mét, chờ cho sự chú ý của HLV hướng sang kẻ khác, Gustavo nhanh chóng lặn trở xuống xác tàu. Ý định của Gustavo là xuống 38 mét để đánh bại kỉ lục của một người bạn (trong chuyến đi, Gustavo đã bày tỏ ý định này với bạn bè). Một thoáng sau, HLV nhận ra bị mất một người. Anh cho chấm dứt giải áp và “lùa” tất cả lên mặt nước. Anh thảo luận với thuyền trưởng, lấy thêm một chai “mõm ngựa” (chai khí dự phòng độc lập), rồi lặn trở xuống.

HLV nhanh chóng tìm thấy Gustavo nằm úp mặt xuống đáy cát, cạnh xác tàu đắm. Mồm thở(*) đã rời khỏi miệng cậu, kính lặn đầy nước, chai khí hoàn toàn trống rỗng. HLV ấn mồm thở của chai “mõm ngựa” vào miệng Gustavo và đưa cậu lên. Tàu lặn làm sơ cấp cứu, nhưng không thành công.

Vị trí, dấu vết tai nạn cho thấy không hề có biểu hiện là nạn nhân sau khi chạm đáy đã cố gắng thực hiện một cú đi lên. Có thể lúc vừa tới đáy thì Gustavo đã bị hết khí thở và cậu không thể kiểm soát được độ nổi trung tính của mình(*). Ở độ sâu này mà không có nổi trung tính sẽ rất khó khăn khi làm một cú đi lên khẩn cấp. Cậu cũng không tháo bỏ đai chì(*).

Nỗ lực của gia đình Gustavo kiện người HLV đã không thành công. Các bạn lặn của Gustavo khai trước Tòa rằng, HLV đã thông báo và đã chỉ huy cuộc lặn đúng cách, nhưng Gustavo đã cố ý làm sai kế hoạch. Đồng thời, thực tế ghi nhận rằng, người HLV đã trở xuống với chai “mõm ngựa” và đã cố gắng giải cứu. Người HLV khai trước Tòa rằng, lúc dừng giải áp ở độ sâu 5 mét, anh có kiểm tra chai khí của Gustavo và thấy còn 70 bar khí.

Thợ lặn nói:

- Lặn không phải là môn thể thao cạnh tranh.

- Cách tốt nhất để tạo ra một vụ tai nạn lặn là bỏ qua nội dung đã được huấn luyện và lời khuyên của hướng dẫn viên lặn.  

- Với độ sâu từ 24 mét, bạn không bao giờ bắt đầu Descents mà không có một chai đầy khí.

- Cần lặn theo đúng kế hoạch lặn của bạn.

- Trừ khi có kinh nghiệm và được đào tạo lặn solo, bạn không bao giờ lặn một mình.

- Trường hợp bạn đã làm theo tất cả các quy tắc nhưng vẫn không thể tránh khỏi tai họa, thì bạn tháo bỏ chì để đi lên cấp tốc. Runaway ascents rất nguy hiểm và nên tránh, nhưng vẫn hơn là bị chết đuối.


(*) Xin xem trong “Tự điển Lanbien” ở trên cùng bên phải trang tin.

Thứ Sáu, ngày 16 tháng 9 năm 2016

Cá bơi như thế nào

(Sưu tầm, trích đăng)

Tỷ trọng (density) hay tính chất của nước nói chung làm cho việc di chuyển trong nước tương đối khó khăn, nhưng cá đã di chuyển trong nước rất nhanh và dễ dàng.

Cá bơi dựa trên việc lấy bộ xương làm khung, cơ làm bộ phận tạo lực (power), và các vây để đẩy (for thrust) và định hướng bơi. Tác dụng bộ xương của cá phức tạp nhất trong số các động vật có xương. Sọ (skull) hoạt động như đòn bẩy (fulcrum), là phần tương đối vững chắc (stable) của cá. Cột sống như cái đòn bẩy (lever), tham gia vào tất cả sự chuyển của cá.

Góp phần vào quá trình bơi của cá, thì thân là đáng kể nhất. Các cơ cung cấp công (power) tới 80 % cho hoạt động bơi. Các cơ được sắp xếp theo nhiều hướng (multiple directions) (myomeres), cho phép cá di chuyển bất cứ hướng nào. Một sóng hình sin (sinusoidal) chạy dọc đầu tới thân và các vây cung cấp “nền, đòn” để đưa (exert) lực đẩy từ các cơ của cá vào trong nước.

Khi cá bơi, có các lực sau diễn ra:
- Cùng chiều với hướng vận động của cá: lực đẩy (thrust)
-Ngược với chiều của lực đẩy, nằm ở góc bên phải: lực nâng (lift)
-Ngược chiều với chiều chuyển động của cá: Lực kéo (drag). Lực kéo gồm có lực ma sát của nước lên thân cá, áp lực của nước tác động lên phần đầu cá, và lực quay (vortex) ở phần đuôi. Cá hạn chế các lực kéo này hình dạng cơ thể (hình thoi) và tiết nhớt (slime)trên da.
Khi lực đẩy lớn hơn lực kéo, cá bơi về trước.


Các kiểu bơi của cá:

Dựa vào lối sống và đặc điểm sinh lý của cá, người ta chia hình thức bơi của cá làm 2 dạng:
- Bơi liên tục (Cruising): Cá thuộc nhóm này bơi hầu như liên tục, không nghỉ. Ví dụ như cá ngừ, trong cơ của cá này, thành phần cơ đỏ với nhiều mạch máu, các tế bào giàu ty thể và myoglobin, cung cấp nhiều năng lượng qua quá trình phân giải hiếu khí.
- Bơi gián đoạn (brusting): Nhóm cá này không bơi liên tục, mà thường hay đứng trong nước. Hầu hết cá sống trong rạn san hô thuộc về nhóm này.

Các yếu tố tham gia vận động và vai trò của chúng:

Tham gia tích cực vào hoạt động bơi của cá gồm có thân và các vây. Thân được cấu tạo bởi cơ vân, còn đơn vị cấu tạo của các vây là các tia vây.
Các vây đóng vai trò quan trọng trong việc điều khiển chuyển động của cá, vừa cung cấp lực nâng, lực đẩy, đồng thời đóng vài trò như cái phanh. Cá phải biết điểu khiển chuyển động lên xuống, phải trái và chuyển động quay của nó.
- Vây đuôi cung cấp lực đẩy và điều khiển hướng của cá.
- Vây ngực hầu như đóng vai trò như các rudders (bánh lái) và hydroplane để điểu khiển chuyển động lên xuống (pitch), sang phải sang trái (yaw), và phanh.
- Vây bụng hầu như để điều khiển vận động pitch (lên xuống), và:
- Vây hậu môn điều khiển vận động tròn (roll).

Ngoài ra, hình dạng cơ thể cũng góp phần rất lớn vào việc bơi lội của cá. Liên quan đến đặc điểm bơi, người ta chia cá làm 4 nhóm:

- Nhóm cá có cơ thể hình thoi (fusiform): Đại diện là cá ngừ, hình dạng cơ thể tương tự như hình dạng quả ngư lôi (torpedo), giúp cá bơi với tốc độ cao.

- Nhóm cá có cơ thể mảnh, dài (attenuated shape)như cá chình (eel). Hình dạng này có thể giúp cá trườn, lắc cơ thể, lách vào tận các kẽ nứt để săn mồi.

- Nhóm cá có cơ thể dạng nén do chịu áp lực cao (depressed shape)như cá đi câu (angler fish): hình dạng này thuận lợi cho việc "ngồi và đợi" (sit and wait) mồi.

- Nhóm cá dẹt (compressed shape): tìm thấy ở cá rặng san hô như cá butterfish, hình dạng này giúp cá cực kỳ nhanh nhẹn trong việc chuyển động xung quanh rạn san hô và tăng tốc bất
ngờ.

Thứ Tư, ngày 07 tháng 9 năm 2016

Một số loại "biển đặc biệt"

1. Biển giữa lục địa.

Biển giữa lục địa thường ăn sâu vào đất liền, thông với đại dương bằng các eo biển hẹp, không để cho sự trao đổi nước với đại dương thật dễ dàng.
Những biển này có chế độ thủy văn nổi bật như: thủy triều không lớn, nhiệt độ nước từ độ sâu nào đó tới đáy biển có tính chất đồng kiểu. Độ sâu đó thường là nơi có các sống ngầm (đỉnh các dãy đồi, núi ngầm), phân cách những độ sâu lớn của đại dương.
Các loại biển giữa lục địa được hiểu bao gồm biển giữa các lục địa (giữa 2 hay 3 lục địa) như Địa Trung Hải, hay biển nằm trong một lục địa như biển Catxpien, biển Aral, biển Baltic.

2. Biển ven lục địa.

Biển ven lục địa tách với đại dương bằng chuỗi các đảo, đôi khi bằng các bán đảo. Quan hệ của những biển này với đại dương chặt chẽ hơn so với Biển giữa lục địa.
Tại các biển này, thủy triều từ đại dương vào thật dễ dàng, các khối nước biển có tính chất phù hợp nhiều với khối nước của đại dương tiếp cận, các hải lưu phụ thuộc nhiều vào hải lưu của đại dương.
Một số biển ven lục địa: biển Nhật Bản, biển Bering, biển Đông của Việt Nam.

3. Vịnh.

Theo Từ điển Dầu khí do Tổng Hội Địa chất Việt Nam xuất bản năm 2004 thì "Vịnh là vùng nước rộng ăn sâu vào đất liền, nơi đường bờ biển có dạng đường cong lớn. Vũng là vùng nước có những đặc điểm tương tự nhưng nhỏ hơn vịnh".
Theo “Từ điển Địa chất giải thích” (Nguyễn Văn Chiển và NNK, 1979) thì "Vịnh là phần biển ăn sâu vào lục địa, có cửa mở rộng ra phía khơi với chiều rộng đáng kể. Vũng biển là phần biển ăn sâu vào lục địa, nối với ngoài khơi thường chỉ bằng các khe, lạch không lớn... Vũng biển còn được gọi là vịnh nhỏ".

Tuy nhiên chúng ta thường hay nhầm lẫn giữa "vịnh lớn" (Gulf), "vịnh" (Bay) và "vũng" (small bay) nên thường hay nói "Vịnh Bắc Bộ" (Gulf of Tonkin), "Vịnh Hạ Long" (Ha Long Bay), "Vịnh Bái Tử Long" (Bai Tu Long Bay) hoặc "Vịnh Cam Ranh" (Cam Ranh Bay).

Để phân biệt rõ hơn các khái niệm "vịnh lớn", "vịnh" và "vũng" và vũng, có thể tham khảo Từ điển Địa chất Mỹ xuất bản năm 1987, tái bản năm 2001. Theo đó thì "Vịnh (bay) là một vùng nước biển hay hồ rộng lớn, mở hoặc nằm giữa hai mũi nhô ven bờ hoặc các hòn, các đảo nhỏ ven bờ. Vịnh lớn hơn vũng (cove, small bay) nhưng nhỏ hơn, nông hơn những vùng nước biển và đại dương lớn được ôm bởi những vòng cung bờ biển dài thông với đại dương được gọi là vịnh lớn (gulf)".

Theo định nghĩa trên thì Vịnh Bắc Bộ là một vịnh lớn và bao gồm cả Vịnh Hạ Long và Vịnh Bái Tử Long (là hai vịnh nhỏ), còn vịnh Cam Ranh nên gọi là Vũng Cam Ranh.

4. Vụng. 

Vụng là những vịnh có kích thước không lớn, được bảo vệ chống sóng gió bởi các mõm nhô ra biển. Một số vụng ở Việt Nam: vụng Đà Nẵng, vụng Dung Quất, vụng Qui Nhơn, vụng Văn Phong...

5. Vũng cạn.

Vũng cạn là loại vịnh cạn ăn lõm sâu vào đất liền, có các doi đất hoặc các cồn đất ngăn ở cửa vụng. Vũng cạn chính là thung lũng đoạn cửa sông hay vùng hạ du bị ngập đầy nước biển. Một số vũng cạn ở Việt Nam: vũng Nước Ngọt ở Bình Định, cửa Tráp ở Nghệ An...

6. Phá.

Phá kéo dài dọc theo bờ biển, là một "vịnh" cạn chứa nước mặn hay nước lợ, được nối với biển bằng những eo không lớn hoặc hoàn toàn tách biệt với biển bằng các doi đất.
Phá còn có thể là các kho nước biển nằm trong lòng các vành đảo san hô (atoll).
Có những phá mà bờ của nó kéo dài hàng nghìn km (vịnh Mexico bãi cạn ngăn cách phá với biển dài 1800 km). Ven bờ biển Việt Nam có phá Tam Giang.

7. Khe fio.

Khe fio là những vụng hẹp, nước sâu, ăn rất sâu vào đất liền, có bờ đá cao và rất dốc. Nguồn gốc các khe fio có quan hệ tới các sông băng kỷ băng hà. Khe fio điển hình là Conxky ở biển Bắc Âu.

Thứ Năm, ngày 25 tháng 8 năm 2016

Chuyến hành trình 4.600 km của bốn ông lão trên Đại tây dương

(theo BBC, trích đăng)

Vào năm 2011, Anthony Smith, người Anh, 85 tuổi, cùng ba ông bạn già tuổi từ 56 tới 61, đã hoàn thành cuộc hành trình 66 ngày trên quãng đường 4.596 km trên Đại tây dương. Họ biết sẽ gặp rất nhiều khó khăn, thậm chí có thể nguy hiểm, tuy nhiên, tất cả đều khẳng định họ cảm thấy tự tin. Smith nói: “Chúng tôi muốn thực hiện giấc mơ của mình dù ở tuổi nào đi nữa”. 

Chiếc bè tự chế của họ mang tên An Tiki, cấu tạo bởi các ống nhựa, loại ống dẫn khí đốt, gồm 4 ống lớn chạy dọc và 14 ống nhỏ liên kết ngang. Phía trên là mặt bong. Bè có một cột buồm cao 11 mét và cánh buồm rộng 37 m2, tốc độ trung bình khoảng 1,8 km/h. Bè sử dụng bánh lái kép.

Bè khởi hành ngày 06/04/2011 từ quần đảo Canary Đại tây dương (tây bắc Châu Phi) tới Caribê. Họ dự kiến kết thúc cuộc hành trình tại quần đảo Bahamas, nhưng gió mạnh và biển động buộc họ phải tới đảo St Maarten thuộc Hà Lan trong vùng Caribê.

Smith nói: “Nước là thứ không thể thiếu cho cuộc sống. Việc du hành sẽ làm cho chúng ta nhận thức về nhiều nơi trên thế giới đang thiếu nước” ... “Một số người nói chuyến đi thật điên rồ. Nhưng nó chẳng điên rồ chút nào, bởi bạn sẽ làm được gì nữa khi bạn già đi trong những năm tới”.

Thủy thủ John Russell, 61 tuổi, nói ông thèm thịt bò: “Chúng tôi không có thực phẩm tươi trong một thời gian dài. Chúng tôi sống nhờ đồ hộp. Hoa quả và rau tươi đã hết từ lâu”. 

Được biết ông Smith phải dùng một chân giả bởi tai nạn cách đó 2 năm.

Smith vốn là phóng viên khoa học của The Telegraph và là một nhà thám hiểm. Vào năm 1962, ông từng dẫn đầu một đoàn thám hiểm đến Đông Phi. Năm 1963 ông là người Anh đầu tiên băng qua dãy núi Alps bằng khinh khí cầu. Smith nói: "Hầu hết mọi người ở tuổi của tôi đang hạnh phúc với một chuyến đi đến Sainsbury vào mỗi ngày thứ ba hàng tuần, hoặc có thể ra giúp việc điều hành sửa chữa mái nhà của nhà thờ. Nhưng tôi lại khác họ vì tôi không hài lòng với cuộc sống hiện giờ. Tôi muốn làm những điều khác thường ở tuổi này”. 

Thứ Hai, ngày 15 tháng 8 năm 2016

Thay chai khí dưới đáy biển!

(Bài trên scubadiving.com – trích dịch)

Ron cùng bạn bè tham gia chuyến đi Thái bình dương. Các vùng biển trong thời gian này khá yên tĩnh và điều kiện môi trường rất tốt.

… Phải nói thiết bị của Ron không phải là hoàn hảo, “bạch tuộc”(*) của anh bị xì khí buộc anh phải nổi lên. Anh mượn thủy thủ đoàn một “chai mõm ngựa”(**) loại 80 foot khối. Lẽ ra thuyền viên có thể đưa cho Ron chai của những thợ lặn nổi lên sớm và còn nhiều khí, nhưng họ cho rằng anh chỉ nghịch một chút (Ron là một thợ lặn có kinh nghiệm). Ron khoác thêm “chai mõm ngựa” và nhảy xuống nước.

Ron xuống độ sâu 20 mét. Sau 15 phút chai khí sau lưng anh đã cạn (nó vẫn bị xì khí). Anh quỳ dưới đáy cát và tiến hành hoán đổi chai khí. Nhưng “chai mõm ngựa” được thiết kế chỉ để thợ lặn làm một cú đi lên trực tiếp, nó không được thiết kế để họ làm việc ở dưới độ sâu. Để hoán đổi chai, Ron phải thở bằng “chai mõm ngựa” trong vài phút. Trong thời gian đó, anh phải tháo chai khí chính ra khỏi BCD, rồi cài đặt “chai mõm ngựa” vào BCD, và cài chai khí chính vào “rọ mõm ngựa”, rồi đeo BCD và tiếp theo là đeo “rọ mõm ngựa” lên người.

… Trên tàu đã cảm thấy những gì nguy hiểm cho Ron. Một Divemaster(*) lặn xuống tìm Ron và tiếp cận được Ron đúng lúc anh ta bắt đầu có biểu hiện kiệt sức và hoảng sợ. Ron được cung cấp khí thở và được áp tải lên mặt nước.

Thợ lặn nói:

- Giống như nhiều trường hợp tai nạn lặn, mọi thứ đã đi sai trước khi thợ lặn nhập nước. Ron không nên cố gắng lặn với một “bạch tuộc” bị rò rỉ. Và cũng không giải nghĩa được lý do tại sao Ron không tìm kiếm sự giúp đỡ của thủy thủ đoàn (sửa chữa hoặc thay thế các hư hỏng).

- Mặc dù dễ dàng biết Ron sẽ “nghịch dại”, nhưng giám sát viên lặn đã không ngăn chặn việc Ron xuống nước với “chai mõm ngựa”. Kẻ hoán đổi chai khí dưới đáy biển sẽ giống như một Cascadeur chuyên đóng thế các trò mạo hiểm. Để đổi sang “chai mõm ngựa”, Ron phải cắt nguồn cung cấp khí trong vài phút. Thậm chí nếu anh có thể hoàn tất công việc một cách êm thấm, Ron vẫn gặp sự cố khác là bị nước biển tràn vào đầy hệ thống phân phối khí. Điều này sẽ dẫn đến, hoặc là phải đẩy nước biển ra khỏi thiết bị (trường hợp tốt nhất) hoặc bị cộng lỗi hệ thống.

- “Chai mõm ngựa” là thiết bị an toàn và hiệu quả, nhưng chỉ khi chúng được sử dụng cho một cú đi lên có kiểm soát(**). Tại độ sâu 20 mét, cộng thêm sự nỗ lực và gấp gáp của việc đổi chai khí, Ron đã tiêu thụ không khí gấp ba lần so với khi bình thường. Sự hỗ trợ nhanh chóng của Divemaster đã giúp dừng lại thảm họa.

Bài học:

- Thiết bị lặn: Bạn phải tuân theo khuyến cáo của nhà sản xuất. Các thiết bị đi lên khẩn cấp được sử dụng để làm một cú đi lên khẩn cấp có kiểm soát, không sử dụng cho những việc khác.

- Nếu thiết bị có lỗi, bạn phải sửa chữa hoặc hủy bỏ chuyến lặn. Không bao giờ cố gắng bù đắp cho các thiết bị có lỗi ở dưới đáy biển.

- Càng tồi tệ nếu bạn là giám sát viên lặn: Bạn cần yêu cầu khách lặn phải dừng trò đùa kỳ lạ của họ. Bạn không nên cho rằng các câu hỏi không bình thường của họ sẽ không xảy ra vấn đề gì tiếp theo.

(*) Xin xem trong Tự điển Lanbien ở bên phải trên cùng trang tin này.

(**) Chai mõm ngựa (hourse cylinder) là chai khí dự phòng độc lập. Thợ lặn sâu thường đeo nó ở bên hông bởi một quai treo (“rọ mõm ngựa”), và thường chỉ dùng nó trong lúc đi lên, một khi chai chính hết khí.

Thứ Bảy, ngày 06 tháng 8 năm 2016

Cổ vật từ đáy biển Việt nam

(Sưu tầm, trích đăng)

Năm 2006, Vũng tàu khai mạc phòng trưng bày "Cổ vật từ đáy biển Việt nam”. Hơn 1.000 cổ vật ở đây hầu hết là những hiện vật được trục vớt từ 10 con tàu bị đắm từ đầu thế kỷ thứ 15 đến cuối thế kỷ thứ 19, dọc theo bờ biển Việt nam từ Quảng nam đến Cà mau. Từ những con tàu hàng bị đắm dọc theo bờ biển Việt nam, các chuyên gia khẳng định rằng ít nhất từ khoảng thế kỷ thứ 15, khu vực biển Việt nam đã có vị trí trên “con đường tơ lụa trên biển” và thương nhân Việt nam đã tham gia vào con đường này.

Xác tàu đắm trên vùng biển Bà rịa - Vũng tàu:

-Tàu cổ Lộc an (trục vớt tại bờ biển) Bình châu - Xuyên mộc: hơn 1.000 hiện vật, đa phần là đồ gốm gia dụng, trắng, vẽ lam, xuất xứ từ các lò gốm Nam Trung hoa vào cuối thế kỷ 19.

-Tàu cổ Bãi Dâu: 105 hiện vật, khá phong phú về chủng loại và kiểu dáng (gốm, sứ, pha lê, thủy tinh...) sản xuất tại Pháp vào giữa thế kỷ thứ 19 do Công ty Biedermann & Co-Saigon đặt làm, đặc biệt có một bình đất nung trang trí hình chim phượng.

-Tàu cổ Hòn Bà: 569 hiện vật, phần lớn là gốm dân gian liên quan đến nghề làm mắm ở miền Nam Trung bộ, một số gốm sứ thời Ung Chính nhà Thanh.

-Tàu cổ Hòn Cau, Côn đảo: nhiều hiện vật gốm sứ (gốm men trắng hoa lam và gốm men trắng) đa dạng về loại hình, kiểu dáng của các lò "Cảnh Đức Trấn" (Giang tây), "Sơn Đầu" (Phúc kiến, đời Khang Hy, 1690). Có hiện vật mang phong cách châu Âu hoặc thể hiện cả hai phong cách trên cùng một hiện vật. Đặc biệt có 7 khẩu thần công được đúc vào thời Gia Tĩnh (nhà Minh, 1522-1566)  lần đầu tiên được tìm thấy ở Việt nam (Bãi Rạng, Bà rịa - Vũng tàu).

Vùng biển khác:

-Tàu cổ Cù lao Chàm - Hội an: là một kho báu đồ sộ. Chỉ riêng đồ gốm thương phẩm Chu Đậu (Hải dương, thế kỷ 15) đã gồm 240.000 hiện vật. Ngoài hàng hóa, đồ dùng, thực phẩm, người ta còn tìm thấy xương sọ của một phụ nữ khoảng 20 tuổi có đặc điểm nhân chủng Thái.

-Hai con tàu cổ tìm thấy ở Cà mau (1998) và Bình Thuận (2001): khoảng 200.000 đồ gốm sứ Trung quốc.

-Tàu cổ Hòn Đầm - Phú quốc: khoảng 10.000 đồ gốm gia dụng Sawankhalor (Thái lan, nửa đầu thế kỷ thứ 15) mang một phong cách rất riêng bởi kỹ thuật khắc chìm phủ men bên ngoài.

Thứ Sáu, ngày 29 tháng 7 năm 2016

Bơi sải – Những lời khuyên đối lập nhau nhưng … đều đúng (P3)

Các Lời góp (tiếp theo): 

Lời góp của VĐV-2: Trong bất cứ chương trình huấn luyện nào, bạn cũng sẽ được khẳng định rằng, Recovery với cánh tay thẳng có thể gây ra vấn đề nghiêm trọng vai. Tại sao ban không đong đưa cánh tay của bạn khi phục hồi? Các tác dụng phụ về vật lý có thể có trong kỹ thuật này là gì, chắc bạn đã biết rồi.

Lời góp của VĐV-3: Tôi đã bị 3 ca phẫu thuật vào hai vai (không phải do bơi lội). Tôi thấy rằng Recovery thẳng cánh tay dễ dàng hơn đối với tôi. Tôi cũng dùng đầu làm dẫn hướng, với cánh tay gập và thả lỏng, trừ lúc đang kéo nước. Bạn hãy thử thẳng cánh tay hồi phục nếu bạn có vấn đề vai. Nó thực sự tuyệt vời cho bơi cự li dài, và khiến bạn có thể sử dụng 2 kich trong 2 stroke, tay nhập nước bắt đầu bằng ngón tay cái. Sau đó kéo nhẹ nhàng để cơ thể lướt đi trong một, hai giây. Rồi lặp lại. Tôi cảm thấy thực sự tốt. Bạn hãy thử nó.

Lời góp của VĐV-4: Nếu bạn đã tìm hiểu về bơi sải trường phái Total Immersion thì chủ đề về sải với cánh tay thẳng là không phù hợp với bạn. Nó không hề sai nhưng không thích hợp với bạn nếu bạn muốn sử dụng kỹ thuật bơi sải khôn ngoan. Bạn hãy loại bỏ suy nghĩ nói trên ngay lập tức.

Lời góp của VĐV-5: Những gì mà lời góp trên không nói ra, đó vai có thể được giảm sự căng thẳng nếu cánh tay bạn gập với khuỷu tay cao. Nó cũng cung cấp cho bạn một lợi thế nhiều hơn về động lực đẩy và kèm với một tốc độ cao hơn. Bạn hãy tin tưởng (vào kỹ thuật gập cánh tay).

Lời góp của VĐV-6: Bài viết trên sẽ tốt khi bơi nước rút. Nó có thể tốt hơn khi tăng tốc trong bơi tốc độ, nhưng đó là một sự lãng phí năng lượng cực lớn.

Lời góp của VĐV-7: Tôi thấy vui vì có người đã làm điều đó tại Thế vận hội London môn bơi sải cự li 50 mét, đã giành được huy chương vàng, đã thiết lập một kỷ lục mới. Đó là lý do tại sao tôi nhìn vào kỹ thuật này
.

Hình: Hãy nhìn người phụ nữ này và hãy chọn một môn thể thao nào đi (thay cho lời góp). 
(hết)

Thứ Bảy, ngày 23 tháng 7 năm 2016

Bơi sải – Những lời khuyên đối lập nhau nhưng … đều đúng (P2)

(P2 - tiếp theo)

Lock
Rotate: Sau khi bàn tay của bạn ra khỏi nước, vào cuối của giai đoạn phục hồi, bạn hãy khóa cùi chỏ lại. Khi bàn tay của bạn di chuyển ra phía trước, bạn cần chắc chắn rằng bạn đã xoay vai để có được lực kéo tối đa cho mỗi cú stroke.

Mạnh và nhanh: Tự cảm nhận được cơ thể là hoàn toàn cần thiết trong khi thử nghiệm kỹ thuật này. Cánh tay tập trung vào một kéo mạnh mẽ nhanh chóng. Bạn cần chắc chắn rằng bạn đang giữ cánh tay càng cứng càng tốt để đảm bảo cho cú kéo mạnh và sự phục hồi nhanh nhất.

Về kỹ xảo: Bạn hãy bơi theo kiểu truyền thống cho đến gần cuối buổi. Khi đó bạn hãy chuyển sang bơi thẳng cánh tay, và cảm nhận về việc chuyển đổi này.

Điều chỉnh: Nếu bạn cảm thấy tốt và nghĩ rằng bạn có thể sử dụng thẳng tay cho khoảng cách dài hơn, thì hãy thử lại.
Nếu bạn cảm thấy
hình như bạn đang bị bơi chậm lại, thì sau đó bạn cần phải thực hiện một số điều chỉnh. Mục tiêu chính của kỹ thuật chuyển đổi là để tăng tốc độ lúc về gần đích. Lần tập sau, bạn hãy sử dụng kỹ thuật truyền thống cho một khoảng cách dài hơn lần tập trước, trước khi chuyển sang tập thẳng tay.

Th nghiệm: Bơi lội là cả một nghệ thuật và kỹ thuật. Kỹ thuật mới liên tục được giới thiệu, trong khi kỹ thuật cũ được thử lại. Thử nghiệm sải thẳng cánh tay chắc chắn là một giá trị thử lại, nhưng nó không phải là một cú cá cược chắc chắn. Bạn hãy thử kiểu này trong vài vòng luyện bơi tự xem lại mình nếu bạn cảm thấy bơi được nhanh hơn. Kỹ thuật bơi là sự tích hợp các kết quả về những cuộc thử lại điều cũ và thử nghiệm những điều mới.

Các Lời góp:

Lời góp của vận động viên bơi lội thứ nhất (VĐV-1):
Tại sao người ta lại chọn stroke với cánh tay thẳng nhỉ? Recovery (phục hồi) với cánh tay thẳng không chỉ kém hiệu quả, mà sau đó sẽ ấn cơ thể chìm xuống hơn khi bạn quạt tay. Nếu bạn gập cùi chỏ thì cánh tay đòn sẽ ngắn hơn bạn sẽ đỡ mất sức hơn. Sức lực hãy để dành cho cú quạt (stroke). Bạn không nên tin vào một thông tin sai lạc không có thật như vậy

H: Bạn đang bơi đúng hay sai với kỹ thuật "hiện hành" - điều đó chưa quan trọng bằng việc bạn đã đi bơi và thoải mái với nó (thay cho lời góp).  
(còn nữa)

Thứ Hai, ngày 11 tháng 7 năm 2016

Bơi sải – Những lời khuyên đối lập nhau nhưng … đều đúng (P1)

(Theo swim.isport.com, trích dịch)

Nếu bạn muốn luyện bơi thì bạn sẽ có một cơ hội tốt khi quan sát các vận động viên Olympians, trong đó kiểu bơi sải thẳng tay được áp dụng trong giai đoạn về đích. Nếu bạn tò mò về bơi sải thẳng cánh tay, thì bài này xin đưa ra một cái nhìn tổng quan và khi nào bạn có thể áp dụng nó.

Trong
bơi sải có hai kỹ thuật chiếm ưu thế: Sải truyền thống (strokes chữ S – phát minh vào những năm cuối cùng của TK20) là hình thức phổ biến nhất, và số khác sử dụng bơi sải thẳng tay (một kỹ thuật phổ biến từ đầu TK20). Mỗi kẻ sử dụng mỗi kiểu vì những mục tiêu/lý do khác nhau.

Sải truyền thống: Kỹ thuật này được sử dụng trong tất cả các sự kiện bơi sải, trong đó có bơi nước rút. Sải truyền thốngcòn được gọi là khuỷu tay cao và cẳng tay thấp hoặc cánh tay gập” – là những gì bạn được học, ví dụ cánh tay rút ra khỏi nước rồi gập khuỷu tay, sao cho khuỷu tay cao bàn tay thấp ; rồi cánh tay duỗi thẳng ra phía trước và sau đó cắt vào nước. Cách phục hồi (Recovery) này làm giúp giảm khoảng cách mà cánh tay của bạn phải di chuyển, và nó cũng đảm bảo một kỹ thuật bơi mịn màng phù hợp với tầm sải tay của bạn.

Sải quạt thẳng tay. Có thể hồi bé bạn đã được hướng dẫn về bơi thẳng cánh tay (nhiều trẻ em được dạy kỹ thuật này đầu tiên, vì nó đơn giản hơn kỹ thuật sải truyền thống). Khi bàn tay của bạn ra khỏi nước, khuỷu tay của bạn vẫn bị khóa (cánh tay vẫn thẳng). 

K
iểu stroke này đơn giản, nhưng lại tăng lực cản, làm bạn mất thêm lực cho mỗi cú stroke.
Kỹ thuật này
hiện (gần như) chỉ được sử dụng khi bơi nước rút. Một số người bơi lội có sức rất khỏe có thể thực hiện sải thẳng tay trong cự li 50 mét hoặc 100 mét hỗn hợp, hoặc sử dụng kỹ thuật này cho 1015 mét cuối cùng của cuộc đua cự li dài hơn.

Ưu điểm và khuyết điểm của sải quạt thẳng tay: Khi quạt thẳng tay, bạn có thể cảm nhận được cánh tay của bạn đang phải kéo một tấn nước. Điều này có thể có lợi, nhưng rất mệt mỏi. thế, bạn sẽ rất khó để sử dụng trong bơi sải cự li trên 50 hoặc trên 100 mét.


Sải truyền thống sử dụng cơ bắp khác với sải thẳng tay. Sải thẳng tay có thể gây nhiều vất vả cho vai của bạn. Hãy suy nghĩ về nó: Bạn đang đè một tấn lên cánh tay của bạn khi chúng quay tròn như cánh quạt cối xay gió, nhưng chắc chắn điều này sẽ làm bạn kéo được nhiều nước. Bạn không nhất thiết phải áp dụng điều này trong toàn bộ thời gian bơi – nó sẽ làm bạn kiệt sức. 
(còn nữa)

Thứ Ba, ngày 21 tháng 6 năm 2016

Thiết bị tìm kiếm máy bay, tàu thủy bị chìm trên biển

Có bạn hỏi làm sao lực lượng cứu nạn máy bay SU-30 và CASA nhìn thấy được đáy biển? Bài sưu tầm xin giới thiệu về thiết bị này:

Sidescan Sonar là phương pháp thu hình các chi tiết đáy từ sự phản hồi sóng siêu âm. Máy định vị Sonar là một thiết bị có độ phân giải đủ để thể hiện các hình ảnh cơ bản đáy nước ở hai bên tuyến khảo sát. Sidescan Sonar không cung cấp độ cao tuyệt đối của đối tượng, mà là độ cao của vật thể tới đáy, từ đó độ cao của vật thể có thể ước tính.

Máy định vị Sonar trông giống trái tên lửa hoặc con cá, gọi là Towfish (con cá). Khi treo cách đáy biển 50 m sẽ có thể nhìn thấy các vật trong vòng chừng 600 m2. Tuy vậy, với Sonar, một xác người trông không khác gì một gò cát trên màn hình. Ngay cả xác tàu đắm cũng khó nhận ra trên màn hình nếu người điều khiển Sonar không được huấn luyện. Khi phát hiện một vật bất thường ở đáy biển, người ta hạ Sonar xuống vài mét để có hình ảnh rõ hơn.

Sidescan Sonar gồm thiết bị ghi, một cảm biến chìm trong nước, nối với nhau bằng cáp tín hiệu. Sidescan Sonar là thiết bị ghi, nạp tín hiệu cho Towfish – phần thiết bị kéo ngầm dưới nước. Lệnh từ thiết bị ghi truyền đến đầu phát (Transducer).

Đầu phát phát xung siêu âm sẽ phát sóng (xung) xuyên trong nước, thẳng xuống đáy biển. Sau khoảng thời gian cực ngắn, sóng siêu âm phản xạ lại từ đáy nước dội trở về máy thu, được khuếch đại và truyền về thiết bị ghi. Thiết bị ghi xử lý tín hiệu, số hóa và tính toán vị trí tương ứng trong bản ghi (từng pixel một), rồi truyền số liệu này vào thiết bị ghi lưu. Số liệu thu được cho phép tính toán số liệu hiệu chỉnh độ xiên để tạo ra hình ảnh phẳng, và có thể ghép thành một vùng rộng của đáy được khảo sát.

Chiều cao và tốc độ kéo thiết bị: Chất lượng của số liệu là một hàm số của chiều cao Towfish so với đáy hoặc đối tượng dưới đáy. Với cấu hình tiêu chuẩn, việc khảo sát được tiến hành với Towfish ở cao độ so với đáy từ 8-20% phạm vi đo. Nếu kéo Towfish cao hơn thì vùng khuất sẽ giảm và việc nhận biết địa vật cũng giảm. Nếu kéo Towfish thấp hơn sẽ giảm hiệu quả của tín hiệu ở vùng biên. Tốc độ kéo sẽ điều chỉnh sao cho mỗi địa vật được sóng siêu âm phản xạ 3 lần.

Hình ảnh về đối tượng được khảo sát: Độ chính xác (khả năng nhận biết kích thước địa vật đáy) phụ thuộc và nhiều yếu tố: kích thước và hình dạng của địa vật, dạng vật liệu và độ phản xạ, tạp âm, nhiễu, và mức độ ổn định của Towfish. Một vùng khuất phía trước với tín hiệu phản xạ mạnh cho biết có chỗ lõm lớn. Một vùng khuất ở phía sau với tín hiệu phản xạ mạnh cho biết có sự nhô lên đột ngột của đáy.

Tính toán chiều cao của địa vật: Chiều cao của địa vật có thể ước tính từ bóng che của nó. Độ phản xạ của sóng siêu âm là một hàm của kích thước địa vật, hình dạng, hướng so với Towfish, và kết cấu của nó. Thép và đá phản xạ tốt nhất. Sợi thủy tinh, gỗ, chất dẻo, cao su phản xạ yếu.

Xác định vị trí của địa vật: Để xác lập vị trí một cách chính xác, trước hết phải có vị trí chính xác của tàu khảo sát, rồi nạp vị trí này cho Towfish. Vị trí đầu phát (Transducer) là điểm gốc của hệ tọa độ được sử dụng trên tàu. Hướng về trước và ra sau là hướng chính, khoảng cách vuông góc với hướng chính từ Towfish tới mạn tàu gọi là offset. Thông thường, hướng chính là dương khi ở phía sau, và offset là dương khi ở bên phải mạn tàu. Vị trí của Transducer được tính tại anten của GPS (phương pháp hình học). Khi vị trí của Towfish được xác định thì ta sẽ tính được vị trí của địa vật. Đại lượng offset (trong bộ ghi của Sonar) sẽ có giá trị dương đối với mạn phải và âm đối với mạn trái. Khi biết giá trị offset của Towfish so với tàu khảo sát thì sẽ tính được vị trí của địa vật.

Thứ Hai, ngày 13 tháng 6 năm 2016

Những lưu ý khi lặn sâu (P1)

(Sưu tầm, trích dịch)

Lái xe với tốc độ 130 mile/h và lặn sâu 130 feet có điểm chung là sẽ tiếp cận nỗi nguy hiểm một cách nhanh chóng. Dưới độ sâu khá sâu, bình khí của bạn sẽ hết đi rất nhanh. Nhưng không giống sự liên tiếp xuất hiện các cột điện khi bạn chạy xe hơi, lượng khí trong bình là tàng hình, ngay cả khi bạn thường xuyên xem đồng hồ đo khí, vì bạn có thể không hình dung các chữ số của đồng hồ sẽ “xuống” nhanh tới mức nào. Bạn thậm chí có thể không nhận ra trang thái cơ thể bạn đang biến đổi như thế nào: nước ấm, trong vắt, nên tại độ sâu 130 feet bạn cảm thấy dễ chịu như đang ở 30 feet. Thêm hiệu ứng blissed từ lí do bị ngộ độc nitơ, và đầu mối gây nguy hiểm cho bạn lại có thể xuất phát từ cách ngậm mồm thở của bạn. 
Mặc dù có nhiều nguy hiểm khác khi ở độ sâu, đi lên cấp tốc chắc chắn là tai nạn nghiêm trọng nhất.

1. Thực hành lặn.

Chìa khóa để bạn đang quen lặn ở độ sâu 60 feet chuyển sang lặn 130 feet không phải là sự nhảy vọt. Thay vào đó, bạn cần tăng dần dần độ sâu tối đa của bạn. Bạn không nên lập kỉ lục gia số độ sâu hơn 10 feet sau mỗi cú lặn. Nói cách khác, bạn hãy cảm thấy thực sự thoải mái và thư giãn ở độ sâu tối đa hiện tại của bạn, ví dụ 80 feet, khi đó bạn hãy lặn 90 feet.

Gia số 10 feet có vẻ như quá nhỏ chăng? Nó sẽ là 5 lần lặn để bạn chuyển từ 80 feet đến 130 feed. Tuy nhiên, bạn đang bước vào lãnh thổ chưa được bạn khám phá. Trước tiên, bạn không biết được sự tiêu thụ không khí của bạn thực sự sẽ tăng lên bao nhiêu. Về mặt vật lý, sự tiêu thụ khí ở 130 feet sẽ là cấp số nhân so với khi ở bề mặt. Khí thở ở độ sâu đặc hơn, vì vậy bạn sẽ thở tốn khí hơn. Nhưng có những yếu tố khác nữa:

Bạn sẽ có một chút lo lắng mà bạn không nhận ra, sẽ làm bạn thở gấp, thở nông, và gây lãng phí. Mệt mỏi và CO2 cũng thúc đẩy nhịp thở của bạn. Thế là bạn rơi vào một vòng phản hồi: thở nông, lãng phí khí thở, lại thở nông hơn, lại lãng phí khí thở hơn nữa, cuối cùng là hết khí thở quá nhanh.  

Thứ hai, sự căng thẳng của bạn sẽ trở nên tệ hơn một khi hơi thở của bạn gặp khó khăn. Lo lắng và hoảng loạn có thể xuất hiện mà không cần một lý do nào. Lúc đó bạn có thể thuyết phục được bản thân bạn không?

Thứ ba, bạn đang đi vào độ sâu – nơi dễ xuất hiện trạng thái say nitơ. Đó là một nguy cơ nghiêm trọng. Nó có thể gây ra hưng phấn quá mức, thay vì lo lắng. Trong cả hai trường hợp, trạng thái say nitơ có thể làm cho bạn bỏ qua tất cả các dấu hiệu cảnh báo nguy hiểm.

2. Kế hoạch lặn.

Cuộc họp lập kế hoạch lặn sâu quan trọng hơn nhiều so với những kế hoạch lặn mà bạn đã quen biết. Máy tính lặn đã làm nhiều người lười lập kế hoạch. 

Một thói quen xấu là chỉ dựa vào máy tính để biết sẽ phải làm gì. Thay vì dựa vào nó, bạn cần biết trước là bình 90 feet khối của bạn sẽ cung cấp không khí cho bạn được bao lâu. Bạn cần có một kế hoạch dự phòng. Van Velson, bạn tôi, nói: Nếu bạn muốn xuống 90 feet, bạn cần có một kế hoạch dự phòng cho trường hợp bạn ngẫu nhiên bị rớt xuống 100 feet hay 110 feet. Như vậy trong lúc lặn 90 feet, nhưng nếu bạn bị rớt xuống 100 feet thì bạn mới biết bạn sẽ có thể ở lại đó được bao lâu.

Điều gì sẽ hạn chế lặn sâu: Bạn sẽ không đủ không khí thở? Việc này phụ thuộc vào bạn, vào máy tính và chiều sâu bạn cần xuống. Ai sẽ nhận được điều này đầu tiên, bạn hay bạn lặn của bạn? Bạn muốn có 500 psi khí dự phòng, nhưng làm thế nào để bạn có được nhiều khí dự phòng hơn? 

Một số thợ lặn sử dụng “quy tắc một phần ba” (thường được áp dụng cho cuộc lặn thâm nhập hang động). Một phần ba khí để đi tới, một phần ba cho để đi về, và một phần ba còn lại cho cú đi lên có dừng giải áp an toàn(*) và dự phòng cho bất kỳ sự chậm trễ nào mà bạn có thể gặp phải. Nghĩa là bạn xài chai chứa 3.000 psi khí, thì sẽ đi về khi chai còn 2.000 psi, và bắt đầu đi lên khi chai còn 1.000 psi. Khi đi lên, bạn hãy tiêu tốn 100 psi khí cho mỗi 10 feet đi lên, không kể 500 psi dự phòng “nguội”.

3. Chuẩn bị lặn.

Bạn hy vọng tăng giới hạn chiều sâu tối đa của bạn bằng cách liên tục tăng thêm 10 feet mỗi lần lặn mà không hề bị rủi ro. Bạn hãy nghỉ ngơi đầy đủ và uống nhiều nước. Mệt mỏi sẽ dẫn tới DCS(*), mê man nitơ, và có lẽ nguy hiểm hơn – đó là gia tăng sự bất cẩn, sự lo lắng và hoảng loạn. Bạn cần có kế hoạch vào buổi tối cho cú lặn sáng mai. 

Cần hạn chế rượu và cà phê bắt đầu từ tối hôm trước. Mất nước cũng làm tăng nguy cơ DCS và dẫn đến mệt mỏi sớm hơn.

Cần lặn trong vùng màu xanh của máy tính lặn của bạn.

Điều kiện lặn hôm nay là gì? Nhưng nếu lúc này tầm nhìn kém, nước khá lạnh hoặc xuất hiện dòng chảy mạnh, thì đây có thể không phải là một ngày để bạn xuống sâu thêm 10 feet.

Bạn hãy chuẩn bị thiết bị và kiểm tra lẫn nhau một cách cách cẩn thận hơn bình thường. Trước khi xuống nước, nhóm cần thông qua kế hoạch lặn một lần nữa, sau đó nhìn vào mắt nhau để xem bạn mình có thoải mái không. Nếu có nghi ngờ, nhóm nên hủy bỏ chuyến lặn, và không nên ngần ngại làm như vậy vì bất kỳ lý do nào.

(*) Xin xem trong "Tự điển Lanbien" ở trên cùng bên phải trang tin này. 
(còn nữa)

Chủ Nhật, ngày 05 tháng 6 năm 2016

Chúng tôi bơi trên hồ Michigan (P2)

(Tiếp theo và hết)

Sau chừng vài phút, lực lượng ứng cứu, từ không ít hơn của năm thị trấn, đã có mặt. Northfield thậm chí còn đưa tới chiếc xe trông giống như xe cần cẩu. Hai xuồng cứu hộ Zodiac có mặt và tìm kiếm trong vùng mà chúng tôi đã bơi. Chúng tôi ở trên bờ cung cấp cho cảnh sát các thông tin có liên quan. Rồi một người suy đoán rằng, Tim đã bơi tới điểm quay vòng rồi, nhưng không quay về mà tiếp tục bơi về phía Bắc. Chúng tôi gọi điện thoại cho xuồng Zodiac về khả năng này, và họ đã tìm thấy Tim sau vài phút.

Chúng tôi nhẹ nhõm khi nghe Cứu hộ nói rằng Tim đã lên Zodiac và đang trở lại tháp Beach. Anh ấy sức khỏe vẫn tốt, mặc dù khá mệt mỏi và có chút lo lắng. Anh ấy nói rằng anh đã sơ suất bỏ qua điểm quay vòng, nên đã bơi tiếp về phía Bắc. Cho tới khi biết không thể tiếp tục bơi được nữa, anh bơi vào bờ và đi bộ ngược về điểm xuất phát. Anh đã ở trong nước được một giờ và 45 phút.

Tôi biết rằng tôi sẽ phải xin lỗi Tim vì đã vội vàng gọi 911, nhưng câu chuyện kiểu thế này rất dễ kết thúc không có hậu. Cho dù kết quả là tốt đẹp hay bi đát, đây là lời nhắc nhở, rằng bơi vùng nước mở có thể nguy hiểm, và chúng ta cần thực hiện một số quy tắc an toàn thông thường:

-Không bơi một mình, hoặc bơi “theo nhóm” nhưng rút cục vẫn là bơi một mình.
-Nhóm bơi nên có một người ở trên bờ để theo dõi, hoặc thuê một nhân viên cứu hộ theo dõi.
-Hãy chú ý đến sự đồng đẳng cấp của bạn bơi.
-Cần đeo kính bơi cận nếu bạn nhìn xa bị khó khăn.
-Hãy đội chiếc mũ bơi có màu sắc rực rỡ. Hãy kéo theo phao an toàn của vận động viên bơi vùng nước mở.  

Có lẽ vị cứu tinh lớn nhất là phao bơi an toàn của vận động viên bơi lội. Phao có sợi dây nối với đai vòng chéo qua vai hoặc vòng ngang qua eo. Nó cung cấp cho thuyền bè qua lại một cảnh báo rõ ràng hơn về sự hiện diện của một người bơi, và nếu bạn gặp rắc rối, bạn kéo nó vào lòng – nó sẽ giữ cho bạn nổi. Cộng đồng bơi vùng nước mở đã khuyến khích sử dụng các phao tiêu này. Cuộc sống của bạn hoặc cuộc sống của Tim có thể phụ thuộc vào nó. 

Thứ Ba, ngày 31 tháng 5 năm 2016

Chúng tôi bơi trên hồ Michigan (P1)

(Sưu tầm, trích dịch)

Sáu người chúng bơi ở hồ Michigan tại Tower Road Beach, Winnetka, Illinois, vào 7.15h sáng. Nhóm chúng tôi quen biết nhau từ trước, trừ Tim. Tôi gặp Tim tại hồ bơi vào ngày hôm trước, và hai chúng tôi có cuộc trò chuyện. Tôi kể cho Tim về kế hoạch bơi hồ Michigan vào ngày hôm sau, rồi tôi khuyến khích và anh đồng ý tham gia.

Tháp Beach (Bãi biển) là một địa điểm tuyệt vời cho những người bơi lội vùng nước mở. Hồ Michigan chạy theo hướng Bắc – Nam, và có những mốc nhìn dễ dàng mà chúng tôi có thể sử dụng để đo khoảng cách. Hồ có khí hậu thay đổi thất thường (nhiệt độ nước, sóng, dòng chảy) rất bất lợi cho những kẻ lần đầu bơi ở đó. Chúng tôi sẽ bơi về phía Bắc từ Tháp Beach để giảm thiểu sự đụng chạm với thuyền bè, và để có thể ngắm các khu nhà sang trọng nhất ở khu vực này.

Chúng tôi đến bãi biển. Hôm nay sóng cao 0,6–0,9 mét, nhiệt độ nước 21–22 độ C, và không ai trong số chúng tôi mặc wetsuit. Chúng tôi điều chỉnh kế hoạch bơi, thống nhất sẽ chỉ bơi đến bến tàu đầu tiên rồi bơi về, tức bớt khoảng 3 phần 4 dặm cho mỗi lượt.

Chúng tôi xuất phát. Do bơi về phía Bắc nên những con sóng đã đập vào vai phải của chúng tôi, đòi hỏi chúng tôi một nỗ lực thực sự để đi qua nó. Tất cả chúng tôi đều biết mình sẽ đi đâu.

Chúng tôi đã bơi tới bến tàu đầu tiên (điểm quay vòng). Swim computer báo rằng đã đi được 22 phút (bình thường, khi sóng nhẹ, sẽ chỉ là 16 hoặc 17 phút). Chúng tôi nhìn nhau và không thấy Tim đâu. Tuy nhiên, vì như Tim đã nói trong lúc lập kế hoạch, là “các bạn cứ bơi trước đi, vì tôi sẽ không theo kịp các bạn đâu”, nên chúng tôi nghĩ Tim đang ở phía sau chúng tôi một chút, và trên đường quay về, chúng tôi sẽ nhìn thấy anh ấy. Chúng tôi bơi trở về.

Chúng tôi bơi trở lại Tháp Bãi biển trong 16 phút, nhưng trên đường không thấy dấu hiệu của Tim. Chúng tôi bắt đầu suy đoán loại trừ. Tim rõ rang đã không bơi vào bờ, vì khăn, quần áo, kính cận và chìa khóa xe của anh vẫn còn đó. Trong phòng tắm cũng không có. Tôi đi men bãi biển về phía Bắc để có thể nhìn thấy anh ấy bơi, nhưng không thấy. Đó là một trong những tình huống mà bạn không thể tin vào những gì đang xảy ra, và bạn không thể chịu nổi khi phải nghĩ tới một kết quả tồi tệ nhất. Tôi quyết định gọi điện thoại cho 911.

(còn nữa)

H: Kẻ lữ hành cô độc (hình minh họa).

Thứ Ba, ngày 17 tháng 5 năm 2016

Một thế giới khác

(theo bước & lặn, trích đăng)

Sau khi trang bị đồ nghề và dụng cụ cần thiết, huấn luyện viên kéo chúng tôi ra bãi san hô, cách tàu chừng 100-200m. Trên đường đi, chúng tôi làm quen với ống thở. Cảm giác ngậm chặt một ống cao su bằng toàn bộ răng môi, miệng lại không được khép lại mà cũng không được cử động cười, ngáp, mở toang hoác chi cả, thật chẳng dễ chịu chút nào. Mũi đã được “nhét” gọn gàng vào cùng combo với kiếng lặn rồi. Cơ mũi cứ tha hồ hít vào thở ra hoặc… dừng luôn cũng chẳng sao, vì lúc này không khí được trao đổi bằng miệng chứ không phải mũi. Loại không khí được sử dụng là oxy khô, luồng khí cứ đi qua đi lại ở cuống họng, cảm giác khô cổ nhanh chóng ập đến. Chưa bao giờ lại thèm… ngậm miệng lại như lúc này!
Mải mê làm quen với ống thở nên được huấn luyện viên kéo đi đâu cũng không biết. Cho đến khi anh huấn luyện viên hỏi “quen chưa”, thì TiBi phát hiện ra giữa biển mênh mông không còn ai cả, kể cả anh TaBu. Chưa kịp cảm nhận cảm giác gì ở khoảnh khắc đó, thì anh huấn luyện viên hỏi tiếp “xuống nha”Lập tức TiBi ngậm chặt ống thở, chuẩn bị gật đầu và tưởng tượng cảnh "nhảy dù" vào lòng biển bằng cách thả nút áo phao cho cơ thể chìm xuống. Cái đầu muốn gật thì phải bật ra sau, mà chưa kịp gật đã bị anh huấn luyện viên … ấn ngay xuống nước.
Đột ngột, bất ngờ, choáng ngợp, mà không la lên được vì miệng mới hơi nhếch lên đã dính ngay một hớp nước biển. Cả một hệ sinh thái đa dạng, cả một thế giới sống ngay dưới chân mình từ nãy tới giờ, ở độ sâu từ 5 đến hơn 20m.
Thật ngớ ngẩn khi đã có lúc nghĩ rằng mình sẽ “nhảy dù” xuống đáy biển. Vào biển, thì phải bơi, bơi vào biển như phim “cô gái đại dương” vậy. Tay rẽ nước và đầu tiến tới phía trước, chân… không chạm vào cái gì cả. Toàn bộ cơ thể thuộc về nước. Bên trái bên phải, bên trên bên dưới, đằng trước đằng sau, tất cả là nước. Nước có dòng chảy và có những quy luật của nó. Mà một trong những quy luật đó là: bạn sẽ không bao giờ bất động được. Nước bềnh bồng cho bạn đung đưa cơ thể trong lòng nước. Và bắt theo con nước đó, bạn có thể làm những việc mà trên mặt đất không thể làm: sự di chuyển tự do. Bạn có thể co người lại, cuộn tròn, uốn cong người lộn vòng, vận động về mọi phía.
Dưới nước không có nhiều âm thanh, ít ra là gần như hoàn toàn thinh lặng đối với ngưỡng nghe của con người. Thứ âm thanh duy nhất có thể nghe được là tiếng bọt nước từ ống thở của chính mình, cứ ọc ọc đều ở bên tai. Và lúc này thì mình cũng chẳng để ý rằng mình đang thở như thế nào nữa, việc thở đã đều nhịp và chuyển sang thở bằng bụng nên thở được rất sâu.
Thứ ánh sáng duy nhất ở đây là ánh sáng mặt trời đang hòa tan trong nước biển, tạo thành một thứ ánh sáng kỳ lạ loang đều khắp bề mặt đá, san hô, rong tảo. Và cũng bởi loại ánh sáng này, mà không phải máy chụp ảnh nào cũng có thể chuyển tải được trọn vẹn cảnh thế giới biển.
Thay vì tìm cách ghi lại những hình ảnh của đại dương, anh TaBu tranh thủ tận hưởng chính khoảnh khắc đó. Anh TaBu giao tiếp khá tốt với huấn luyện viên, và được hướng dẫn các động tác bơi và cân bằng theo dòng nước để tham quan và đến ngắm thật kỹ các loại san hô. Cứ nhịp nhàng như vậy, cơ thể cảm thấy rất thư giãn. Vì sự thở sâu và sự tập trung sâu để điều khiển tay chân, giúp cả tinh thần và gân cốt đều thông suốt thoải mái.
Khi chuyển đến một độ sâu mới, có thể có một chút cảm nhận áp suất ép vào lồng ngực, gây cảm giác khó thở hoặc bị ù tai. Ù tai khi đột ngột đi xuống sâu thì hai đứa có trải qua, và cách xử lý thật ra cũng rất đơn giản. Nhưng cảm giác bị chèn ép phổi thì lại chẳng gặp khi đang ở dưới biển, mà lại cảm thấy rất rõ khi đã lên bờ. Trước đó, trên đường quay trở lại tàu, hai đứa gặp một dòng nước lạnh khoảng 20-30m, để nắng mặt trời ở trên đầu, mà băng giá buốt thấu toàn thân run lẩy bẩy. Trang phục lặn của đoàn không phải trang phục chống nhiệt cao cấp, nên bị lạnh là chuyện hiển nhiên, đặc biệt là với những người chưa lặn biển bao giờ.
Thú thật, ngay lúc đó, anh TaBu không còn nghĩ đến chuyện sẽ mặc đồ lặn và chui xuống nước một lần nào nữa (vì lạnh quá mà). Thế nhưng khi tàu vòng qua Hòn Mun, đến đảo Yến và nhìn thấy những cảnh như thế này đây thì anh ấy đã đổi ý. Thật ra thì nhiệt độ cơ thể đã thay đổi có tác động rất lớn đến việc thay đổi quyết định của một người cơ đấy!

Những hòn đảo chỉ là bề nổi của cả một thế giới đang chìm dưới đáy biển. Dưới lòng biển, mọi thứ không bằng phẳng, mà cũng có những đồi núi, đá chồng, đá vòm tạo thành những hang hốc rất thú vị. Cá và sinh vật biển ở đây sống theo từng đàn, và thường làm một chuyện mà ở bãi Northern Reef chúng không làm: nấp dưới những mỏm đá. Thế giới biển bãi Madonna này có vẻ nhộn nhịp hơn, tấp nập hơn và khi lặn cũng có cảm giác thám hiểm hơn.

Bơi cùng với cá, bơi qua các rặng đá lớn nhỏ và bơi trong lòng đại dương, anh và em cũng tự do di chuyển như cá vậy. Cơ thể vận động theo những cách khác trên bờ, dường như không có một giới hạn nào về phương hướng. Nhưng biển có quy luật của biển, phải hiểu và cảm nhận được những dòng hải lưu, những nhịp của con nước để có thể vận động uyển chuyển theo biển. Anh và em cứ dạo chơi như thế, cảm nhận từng khoảnh khắc khám phá biển, và khám phá cả bản thân mình. Trong cuộc dạo chơi này, vượt qua được những giới hạn của bản thân, đi ra khỏi vùng an toàn thường ngày để được làm những điều kỳ diệu đến không ngờ!
Cuộc sống thật tuyệt vời!

Thứ Năm, ngày 05 tháng 5 năm 2016

Kinh nghiệm lặn tham quan xác tàu đắm

(Sưu tầm, trích dịch)


Vụ đắm tàu ​​gợi lên cảm giác hoài cổ và gây lo lắng cho thợ lặn, nhưng cho đến lúc sắp lặn, bạn rất khó để tưởng tượng. Ở đây là các bước mà bạn sẽ cần cho cuộc lặn xác tàu đắm.

1. Chuẩn bị. Một số trung tâm lặn muốn biết gần đây bạn đã có chuyến lặn tương tự không (đòi xem nhật ký lặn). Hoặc yêu cầu bạn làm một cuộc lặn nông như một cú kiểm tra trước khi cho bạn tham gia lặn xác tàu.


Cho dù xác tàu ở khá nông và dễ dàng tiếp cận, bạn vẫn cần chú ý đến cuộc họp lặn để đảm bảo rằng bạn đã hiểu được kế hoạch lặn, tìm hiểu về môi trường khu vực, đặc điểm của xác tàu, … và tiến hành thảo luận với nhóm lặn.

2. Down. Với xác tàu đắm ở khá sâu, đơn vị khai thác lặn đôi khi sử dụng một dây neo để giúp bạn đi xuống từ đuôi tàu lặn tới boong của xác tàu đắm. Sợi dây sẽ cột một đầu vào đuôi tàu lặn rồi đi ra phao định chuẩn, cách tàu khoảng 50 feet. Từ đây, sợi dây sẽ được neo thẳng xuống đáy. Bạn hãy cầm sợi dây bằng một tay (nếu được, đeo găng tay là một ý tưởng tốt) và lần xuống cùng với bạn bè cho đến khi bạn tới xác tàu.

3. Wreck. Hãy lưu ý điểm bắt đầu của bạn. Đây là nơi mà bạn sẽ kết thúc lặn. Nên xác định hướng lặn khi bạn đang ở phía trên xác tàu.

4. Máy ảnh. Nên có ống kính góc rộng để chụp ảnh toàn bộ xác tàu đắm. Đèn plat cũng rất quan trọng.



5. Hãy Ascent. Hai yếu tố nên hạn chế : không có giới hạn giải nén và cách sử dụng khí thở. Quản lý cả hai yếu tố này bằng cách sử dụng “luật một phần ba”. Bạn nên sử dụng 1/3 thời hạn hoặc không khí tùy theo điều kiện nào đến trước - để bơi đi từ điểm xuất phát của bạn, 1/3 để trở về điểm xuất phát, và 1/3 cho giải áp và dự phòng trường hợp khẩn cấp.

6. Trở về tàu. Khi lên tới bề mặt, bạn nhớ bơm BCD. 

Thứ Năm, ngày 28 tháng 4 năm 2016

Thế giới có bao nhiêu Hiệp hội lặn

(Bài của anh AMk3)

Lặn thể thao, hay còn được gọi là lặn chơi, lặn giải trí (recreational diving) không chịu quản lý và cấp chứng nhận bởi một cơ quan quản lý Hành chính Nhà nước, mà thường là tự quản lý, tự điều chỉnh. Tuy nhiên, cũng có một số tổ chức lớn thực hiện chức năng đào tạo và chứng nhận cho các divers (thợ lặn) và instructor (huấn luyện viên). Từ đây, rất nhiều các cuộc mua bán, dịch vụ liên quan đến lặn và thuê mướn thiết bị lặn đòi hỏi phải có sự bảo đảm bằng các bằng cấp, chứng chỉ được cấp bởi các tổ chức này, trước khi có thể thực hiện một dịch vụ hoặc sản phẩm lặn nhất định.

Trong số 49 hiệp hội lặn có uy tín trên trường quốc tế, thì những tổ chức quốc tế được cấp chứng chỉ lặn lớn nhất – hiện đang được phần lớn các hãng sản xuất trang bị lặn và các siêu thị đồ lặn công nhận – bao gồm:

• ACUC: American Canadian Underwater Certifications (trước kia là Association of Canadian Underwater Councils) –Xuất xứ Canada năm 1969 và mở rộng thành quốc tế từ 1984.

• BSAC: British Sub Aqua Club – Trụ sở ở Anh quốc, thành lập 1953 và là câu lạc bộ lặn lớn nhất thế giới hiện nay.

• CEDIP: European Committee of Professional Diving Instructors – Trụ sở ở châu Âu từ 1992 (see Cedip on French Wiki pages).

• CMAS: Confédération Mondiale des Activités Subaquatiques, liên đoàn thế giới dưới nước. 
28/9/1958, các đại biểu Cộng hòa Liên bang Đức (vai trò chính), Bỉ, Brazil, Pháp, Hy Lạp, Ý, Monaco, Bồ Đào Nha, Thụy Sĩ, Hoa Kỳ và Nam Tư đã gặp nhau tại Brussels vào dịp Đại hội của Liên đoàn quốc tế độc lập thu thập tất cả các môn dưới nước. Với mục tiêu này, một cuộc họp được tổ chức tại Monaco vào ngày 09 Tháng 1, và tháng 10, 11 năm 1959 quyết định thành lập “Liên đoàn thế giới dưới nước” CMAS.

• NAUI: National Association of Underwater Instructors – Trụ sở tại Mỹ (đối thủ cạnh tranh của PADI).

• PDIC: Professional Diving Instructors Corporation – Trụ sở tại Mỹ .

• PADI: Professional Association of Diving Instructors –Trụ sở tại Mỹ, tổ chức quốc tế về đào tạo và cấp chứng chỉ lặn lớn nhất thế giới.

• SSAC or ScotSAC: Scottish Sub Aqua Club, Cơ quan quốc gia thể thao lặn tại Scotland.

International Training SDI, TDI & ERDi – Trụ sở tại Mỹ, TDI là cơ quan lặn kỹ thuật lớn nhất thế giới, SDI là nhóm lặn thể thao dựa trên các phương pháp mới và đào tạo trực tuyến, và ERDi là thành phần an toàn công cộng.


• SSI: Scuba Schools International – Có trụ sở tại Mỹ với 35 trung tâm khu vực văn phòng vùng trên toàn thế giới.

Trong số các tổ chức nói trên, nổi tiếng và có ảnh hưởng rộng nhất trong giới lặn recreational là PADI. Các trung tâm lặn, đào tạo và hệ thống cửa hàng trang thiết bị lặn ở Việt nam thường đều theo chuẩn và được chứng nhận bởi PADI. Ngoài ra, một số trung tâm lặn ở Việt nam còn đào tạo chương trình của SSI.